Bằng việc người lớn đề xuất đổi lịch ăn Tết cổ truyền, hiện đại hoá Truyện Kiều, trẻ con chơi iPad giỏi hơn hát dân ca thiếu nhi, thiếu niên giỏi tiếng Anh tiếng Hàn hơn tiếng mẹ đẻ, dân tộc Việt Nam có lẽ có nguy cơ chỉ còn tồn tại trên mấy nét vẽ đường biên bản đồ.
Một dân tộc, theo định nghĩa của cả phương Đông lẫn phương Tây, là một cộng đồng người được kết nối với nhau bởi nguồn gốc tổ tiên, lịch sử, văn hoá, ngôn ngữ, phong tục tập quán và vùng lãnh thổ. Ví dụ, dân tộc Nhật Bản được những dân tộc khác nhận dạng với hoa anh đào, với võ sĩ đạo Samurai, với quốc phục kimono, sushi và rượu sake, … Và ngược lại, khi nhắc tới những chi tiết này, người ta nghĩ ngay tới nước Nhật và dân tộc Nhật Bản. Điều này không phải tự nhiên mà có. Để hình thành nên được căn tính dân tộc đó, mỗi cộng đồng đã trải qua hàng trăm, hoặc hàng nghìn năm lịch sử để xây dựng, tạo nghĩa, và truyền đạt thông điệp tới các cộng đồng người khác cùng tồn tại trên thế giới này. Dân tộc Việt Nam, để được biết đến với một hệ giá trị bao gồm Tết bánh chưng – bánh dày, Áo dài nón trắng, Quan họ, Xẩm, Chèo, Tuồng, Cải lương, … như ngày nay không phải đạt được chỉ bằng một hai bài báo tung scandal lên mặt báo, cũng không phải chỉ bằng một mớ hình ảnh được rải ra khắp các trang web du lịch. Quá trình hình thành nên căn tính dân tộc, tất nhiên, nhiều hơn thế gấp cả triệu lần.
Vào đầu thế kỷ 20, Durkheim (1915), một nhà xã hội học người Pháp, lý luận rằng tôn giáo với một tập hợp các nghi thức và biểu tượng của nó chính là thứ có tác dụng tập hợp đám đông, đem đến cho loài người những cảm giác mạnh mẽ nhất về những cảm xúc, nhận thức, đức tin quần tụ. Khoảng hơn nửa thế kỷ sau, Benedict Anderson, trong cuốn sách viết về sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa dân tộc của mình (1983), cho rằng mỗi dân tộc là một cộng đồng tưởng tượng – “imagined community”. Nói cách khác, ông đề xuất nhìn nhận một dân tộc như một cộng đồng liên nối bằng hệ thống ký hiệu chung được tất cả các thành viên công nhận. Chúng ta, những con người không cùng một mẹ sinh ra, không sống trong cùng một nhà, hay tất cả đều sinh ra trong một thành phố, … cần một điều gì đó thật mạnh mẽ để sự gắn kết với nhau dường như là có nghĩa: một lá cờ tổ quốc dùng chung, một bài quốc ca, rất nhiều phong tục và nghi lễ truyền thống, … Trên một phương diện nào đó, Dân tộc chính là một tôn giáo, một tập hợp các đức tin quần hợp có tác dụng lôi kéo các cá nhân tạo nên những cộng đồng ‘có nghĩa’. Và, một dân tộc chỉ có thể tồn tại được khi những thành viên trong đó tin tưởng vào những biểu tượng đó, và duy trì chúng lâu bền bằng cách cùng nhau chia sẻ những hoạt động văn hoá đời sống hàng ngày (Edensor 2001). Bằng không, những cá nhân rời rạc tất lẽ dĩ ngẫu đến một điểm nào đó sẽ quyết định không còn cần tới nhau nữa mà ra đi.
Từ đó thử nhìn nhận về cái cách mà dân tộc Việt Nam đang được ‘điều tiết’ và ‘bày hàng’ trên trận địa truyền thông đại chúng1, nơi mà các đức tin kể trên cứ ngày bị mai một bằng những sáng kiến vĩ đại như phổ cập tinh hoa văn học cổ bằng cách sửa đổi chúng theo ngôn ngữ hiện đại, đổi ăn Tết cổ truyền dân tộc theo lịch phương Tây hay cho con đi học trường quốc tế từ nhỏ để cô bé Việt Nam 19 tuổi tốt nghiệp cấp 3 nói tiếng Quốc ngữ không bằng trẻ lớp 3…
Có thể, khi ấy, thứ kéo chúng ta lại với nhau, là thứ cảm xúc quần hợp, như bạn tôi từng nói, của những “đứa trẻ mồ côi lai căng tội nghiệp…”
Bùi Trà My
__________________
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Anderson, B. (1983). Imagined Communities: Reflections on the origin and spread of nationalism. London: Verso
Edensor, T. (2001). National Identities and Popular Culture. Oxford: Berg
Durkheim, E. (1915). The Elementary Forms of Religious Life.
__________________
CHÚ THÍCH
1 Truyền thông đại chúng ở đây được nhắc tới bao gồm cả báo chí chính thống và các kênh truyền thông đa phương tiện khác như blog, facebook, youtube, …
